Sự cần thiết phải thu nổ lại địa chấn 3D và xử lý tài liệu bằng công nghệ cao phù hợp với điều kiện địa chất đặc thù mỏ Bạch Hổ trong giai đoạn tận thăm dò
Abstract
Cấu tạo Bạch Hổ do Công ty Dầu khí Mobil (Hoa Kỳ) phát hiện bằng tài liệu địa chấn 2D và giếng khoan sâu tìm kiếm đầu tiên (Wildcat) BH-1X phát hiện dầu khí từ tầng sản phẩm Miocen hạ vào năm 1974. Từ những năm 80 của thế kỷ trước đến nay, Liên doanh Việt - Nga (Vietsovpetro) đã phát hiện thêm các đối tượng mới quan trọng như móng chứa dầu mỏ Bạch Hồ và đang tiếp tục thực hiện tìm kiếm thăm dò và khai thác mỏ này. Sự kiện quan trọng nhất là đã phát hiện và khai thác dầu khí trong đá móng granite nứt nẻ trước Đệ tam; các tầng sản phẩm được xác định nằm trong đá móng nứt nẻ và đá trầm tích ở các tuổi khác nhau, ở các độ sâu khác nhau. Sau một thời gian dài khai thác dầu khí với khối lượng lớn thì sản lượng khai thác tại mỏ hiện nay đã qua đỉnh điểm và đang ở giai đoạn suy giảm, hơn nữa việc bơm một khối lượng nước tương tự vào vỉa làm bức tranh phân bố dầu - nước tại mỏ Bạch Hồ thay đổi mạnh.
Hiện nay, Vietsovpetro vẫn đang sử dụng tài liệu địa chấn 3D thu nổ từ năm 1992 (khi mỏ mới được đưa vào khai thác) để điều chỉnh mạng lưới các giếng khoan phát triển mỏ nên việc liên kết tài liệu giếng khoan với tài liệu địa chấn rất khó khăn. Sự kiện giếng khoan BH-19 và các giếng khoan khác cho thấy tính phức tạp của mỏ đồng thời cũng chỉ ra tiềm năng dầu khí còn ẩn chứa ở những vị trí khác nhau và độ sâu khác nhau cần được làm sáng tỏ. Do đó tài liệu địa chấn 3D hiện đang dùng không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu và sản xuất, cần phải có tài liệu giàu thông tin và độ chính xác cao mang tính đột phá và phù hợp với cấu trúc địa chất phức tạp của mỏ Bạch Hổ.
Công nghệ thu nổ và xử lý địa chấn hiện đại giúp các nhà địa chất tháo gỡ những khó khăn gặp phải khi dùng các tài liệu theo công nghệ truyền thống, trong đó tài liệu nền tảng quan trọng để nghiên cứu địa chất cho phát triển lại mỏ là tài liệu địa chấn 3D công nghệ cao; thu nổ địa chấn 3D nhiều góc phương vị hay góc phương vị rộng; xử lý bất đẳng hướng nghiên cứu nứt nẻ và xử lý tập trung đa điểm cho những vùng địa chất phức tạp, đối tượng nghiên cứu nằm ở sâu là những công nghệ mới khi công nghệ thông tin phát triển mạnh những năm gần đây và đã được áp dụng trong sản xuất.
Nội dung bài báo nêu lên sự cần thiết phải thu nổ lại địa chấn 3D và xử lý tài liệu bằng công nghệ cao, đáp ứng công tác thăm dò và khai thác dầu khí ở mỏ Bạch Hổ trong giai đoạn hiện nay.
References
2. Hoàng Văn Quý và nnk, 2008. Tình trạng khai thác mỏ Bạch Hổ và Rồng. Các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu EOR. Tạp chí Dầu khí số 9, p. 35 - 44.
3. Hội nghị Thăm dò Khai thác Dầu khí 2010. Tạp chí Dầu khí số 3/2010, p. 21 - 26.
4. Hội nghị chuyên đề “Nâng cao hệ số thu hồi dầu - 2010. Tạp chí Dầu khí số 5/2010, p. 26 - 29.
5. Mai Thanh Tân, 2002. Đổi mới công nghệ địa chấn trong thăm dò dầu khí ở Việt Nam. Tạp chí Dầu khí số 7, p. 14- 21.
6. Nguyễn Đình Hợi, 2007. Giải pháp bất đẳng hướng cho nghiên cứu nứt nẻ. Tạp chí Dầu khí số 8, p. 24 - 29.
7. Nguyễn Đình Hợi, 5/2005. Nghịch đảo địa chấn - inversion. Tuyển tập báo cáo Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Địa vật lý Việt Nam lần tứ 4, p. 435 - 444.
8. Nguyễn Đình Hợi, 2007. Những điều cần biết về giếng khoan BH-6. Bản tin Vietsovpetro số 31 quý IV/2006, số Tết Đinh Hợi.
9. Nguyễn Đình Hợi, 2006. Seismic data for fractured basement: A case study of the White Tiger and Dragon fields, Selected papers of the International Conference “Basement reservoir”Sceince and Technics Publishing House, p. 106 - 115.
10. Nguyễn Đình Hợi, 2008. Vai trò của số liệu địa chấn đối với công cụ thông minh nhân tạo trong mô tả đặc trưng tầng chứa nứt nẻ. Tạp chí Dầu khí số 7, p. 27 - 35.
11. Phùng Đình Thực và nnk, 2010. Phát hiện và khai thác có hiệu quả thân đầu trong đá móng granite trước Đệ tam mỏ Bạch Hồ - những thành tựu khoa học và kinh tế xã hội. Tạp chí Dầu khí số 9, p. 20 - 27.
12. Một số thông tin của các công ty địa vật lý và dầu khí trên thế giới.
1. The Author assigns all copyright in and to the article (the Work) to the Petrovietnam Journal, including the right to publish, republish, transmit, sell and distribute the Work in whole or in part in electronic and print editions of the Journal, in all media of expression now known or later developed.
2. By this assignment of copyright to the Petrovietnam Journal, reproduction, posting, transmission, distribution or other use of the Work in whole or in part in any medium by the Author requires a full citation to the Journal, suitable in form and content as follows: title of article, authors’ names, journal title, volume, issue, year, copyright owner as specified in the Journal, DOI number. Links to the final article published on the website of the Journal are encouraged.